Chế định đồng phạm là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của pháp luật hình sự từ xưa đến nay. Theo đó thì tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có trường hợp lại do nhiều người cùng gây ra. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 thì trường hợp khi có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì được gọi là đồng phạm.

Trong luật hình sự thì đồng phạm được coi là hình thức phạm tội đặc biệt, có nhiều điểm khác so với trường hợp phạm tội riêng lẻ. Do đó, BLHS đã quy định nguyên tắc xử lý có tính riêng biệt cho trường hợp phạm tội này và quy định bổ sung về trách nhiệm hình sự của đồng phạm và của từng loại người đồng phạm và

* Căn cứ theo định nghĩa được đưa ra, ta thấy, đồng phạm trong chế định đồng phạm đòi hỏi có những dấu hiệu sau:

Về mặt khách quan, đồng phạm phải có ít nhất hai người trở lên, có đủ đấu hiệu về chủ thể của tội phạm và cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Cùng thực hiện một tội phạm có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi như sau: Hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm. Trong vụ đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành vi tham gia nhưng cũng có thể chỉ có một loại hành vi.

Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều phải có lỗi cố ý. Với một số tội phạm có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc thì những người cùng thực hiện đòi hỏi phải có cùng mục đích này. Những người đồng phạm cũng cần có sự thống nhất về ý chí, hứa hẹn trước với nhau, mong muốn sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Dấu hiệu về thống nhất ý chí, có hứa hẹn trước này cũng là một trong những điểm đề phân biệt từng loại người đồng phạm với một số tội phạm độc lập khác như tội Che dấu tội phạm, Không tố giác tội phạm,…

Chế định đồng phạm và trách nhiệm hình sự
Chế định đồng phạm và trách nhiệm hình sự

* Về phân loại trong chế định đồng phạm, trong Bộ luật hình sự Việt Nam, căn cứ vào những đặc điểm cả về mặt khách quan và cả về mặt chủ quan, đồng phạm được phân thành phạm tội có tổ chức và những trường hợp đồng phạm khác.

Thứ nhất, căn cứ theo khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự 2015, ta thấy, “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau, vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ thể. Do đó, đồng phạm có tổ chức thường có đặc điểm là hình thành nhằm hoạt động có tính chất lâu dài và bền vững và thường có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về mọi mặt cho việc thực hiện cũng như việc che giấu tội phạm. Chính vì những đặc điểm này khiến cho đồng phạm có tổ chức có thể phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, có thể coi đây chính là hình thức đồng phạm nguy hiểm nhất. Do hậu quả nghiêm trọng như vậy, nên các nhà lập pháp đã xếp tình tiết này là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định ở Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Thứ hai, về các trường hợp đồng phạm khác, tuy Bộ luật hình sự không chỉ cụ thể ra các trường hợp này, nhưng dựa vào khoa học pháp lý, theo dấu hiệu chủ quan, có thể phân thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước. Theo dấu hiệu khách quan, có thể phân thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. Mỗi hình thức đồng phạm này sẽ có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Từ đó, tạo cơ sở cho việc dễ dàng phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt trong quá trình xét xử vụ án.

* Về các loại người trong chế định đồng phạm

Trong một vụ đồng phạm, người phạm tội phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn vai trò sau đây: người thực hành; người tổ chức; người xúi giục; người giúp sức. Chỉ có duy nhất 4 vai trò nêu trên ứng với từng loại người đồng phạm. Nếu không có ít nhất một vai trò nào phù hợp với người phạm tội thì đó không được coi là đồng phạm. Cụ thể chế định đồng phạm phân ra các loại người đồng phạm như sau:

+ Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

+ Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

+ Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

+ Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

* Về trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm:

Tất cả các loại người đồng phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng một tội mà có cấu thành tội phạm thoả mãn với những hành vi mà người thực hành đã làm. Toà án sẽ căn cứ vào hành vi cụ thể của từng người để quyết định hình phạt với từng người, nhưng trách nhiệm hình sự thì tất cả các đồng phạm đều sẽ bị truy cứu cùng một loại tội danh.

Các quy định nêu trên về đồng phạm đều là những kế thừa từ chế định đồng phạm của Bộ luật hình sự cũ. Ngoài những điểm nêu trên thì Bộ luật hình sự 2015 cũng đã bổ sung thêm 1 quy định tại khoản 4 như sau: “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”. Đây cũng là một thay đổi tích cực dựa trên những thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự trong cuộc sống.

Trên thực tế, trong một vụ đồng phạm, nhiều người thực hành có những hành vi vượt quá những thoả thuận, hứa hẹn, kế hoạch ban đầu của các đồng phạm khác. Mà hành vi của người thực hành lại là một yếu tố quyết định đề xác định cấu thành tội phạm trong một vụ đồng phạm. Vậy những người đồng phạm còn lại có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá này hay không? Đây là một vấn đề vướng mắc trong quá trình xử lý các vụ án hình sự về đồng phạm. Hiện nay Bộ luật hình sự  2015 đã có quy định rõ ràng về vấn đề này trong chế định đồng phạm, cách quy định cũng hợp lý, hợp tình. Bản chất của đồng phạm là phải có sự thống nhất về ý chí và lý trí. Trường hợp người thực hành có hành vi vượt quá, đây là ý chí chủ quan của người thực hành, thực hiện hành vi vượt quá hứa hẹn, kế hoạch ban đầu. Xét từ bản chất sự việc thì phần vượt quá này không hề có sự thống nhất ý chí giữa những người đồng phạm. Do đó, những người đồng phạm khác sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Tuy nhiên, quy định này cũng cần có sự giải thích, hướng dẫn chi tiết hơn nữa như là thế nào là hành vi vượt quá; trường hợp hành vi vượt quá này được chấp thuận bởi những người đồng phạm khác thì giải quyết như thế nào? Đây là những vấn đề mà các nhà lập pháp cần dự liệu để tránh việc khó áp dụng, diễn giải các quy định mới trong chế định đồng phạm.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào chưa rõ cần hỗ trợ, Quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 số: 1900.6590 để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.

Trân trọng!

Đánh giá bài viết