* Về định nghĩa của chuẩn bị phạm tội

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, ta thấy định nghĩa của chuẩn bị phạm tội như sau:

“Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.”

So với định nghĩa về chuẩn bị phạm tội được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự 1999 trước đây, định nghĩa về chuẩn bị phạm tội đã thêm vào một hành vi là “thành lập, tham gia nhóm tội phạm”. Trên thực tế, sự thay đổi, bổ sung này đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá cao của các chuyên gia pháp lý.

Như vậy, với quy định hiện nay, chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới dạng các hành vi như sau:

– Tìm kiếm, sửa soạn công cụ phạm tội: Các công cụ phạm tội được sửa soạn thường phải là những công cụ liên quan trực tiếp đến việc phạm tội. Ví dụ như: chuẩn bị súng, dao để giết người; chuẩn bị các giấy tờ giả mạo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản,…

– Tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm: Việc tạo ra những điều kiện khác này có thể biểu hiện ở việc chuẩn bị trước kế hoạch phạm tội; thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội; loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng;…

– Thành lập, tham gia nhóm tội phạm: Đây là một hành vi mới được quy định trong Bộ luật hình sự 2015. Cụ thể, hành vi này thường xuất hiện khi chuẩn bị phạm tội với một số tội phạm có tổ chức như: Tội phản bội Tổ quốc; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân;…

Tuy nhiên, quy định tại khoản 1 Điều 14 này đã loại trừ 3 tội danh là: Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 299 (Tội khủng bố). Từ quy định nêu trên, ta có thể hiểu, các nhà lập pháp đã ngầm quy định 3 tội danh này sẽ không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Cách quy định, ngôn ngữ trong điều luật cũng không rõ ràng và chuẩn xác. Việc loại trừ các tội danh này cũng không logic, không đưa ra một nguyên tắc cụ thể nào nên khi áp dụng vào thực tế sẽ gây ra khó khăn trong việc giải thích và áp dụng. Quy định này nên bỏ điều khoản loại trừ ở vế sau của điều luật. Trên thực tế, việc chuẩn bị phạm tội chỉ xuất hiện trong những tội phạm do lỗi cố ý, bởi vì chỉ trong trường hợp cố ý phạm tội, thì người định thực hiện tội phạm mới tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện phạm tội,… Các nhà lập pháp nên căn cứ theo điều này để đưa ra một nội hàm hoàn chỉnh hơn cho chuẩn bị phạm tội.

Chuẩn bị phạm tội có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?
Chuẩn bị phạm tội có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

* Về trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Khoản 2 Điều 14 đã liệt kê ra rất nhiều những tội danh mà người phạm tội phải chịu trách nhiệm dù mới trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội như: Tội bạo loạn; Tội giết người;…

Tuy rằng mục đích của các nhà lập pháp là muốn cụ thể hoá các hành vi phạm tội để việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội trở nên chính xác hơn. Nhưng cách liệt kê như vậy khiến cho việc giải thích và áp dụng pháp luật rất khó khăn và chưa thể hiện được việc phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt.

Quy định tại khoản 3 Điều 14 cũng rất vô lý, theo đó thì: “Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”. Vậy đối với trường hợp người từ đủ 16 tuổi trở lên mà chuẩn bị phạm tội, trách nhiệm hình sự của họ sẽ được đặt ra như thế nào thì luật lại không nói rõ. Kỹ năng lập pháp tại Bộ luật hình sự 2015 này có rất nhiều vấn đề đáng nói. Cách quy định như trên sẽ khiến cho một số đối tượng thoát tội, tạo ra sự bất công bằng trong xã hội.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào chưa rõ cần hỗ trợ, Quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 số: 1900.6590 để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.

Trân trọng!

Đánh giá bài viết