Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng và luôn được đề cập đến trong Bộ luật hình sự. Tại Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015, chế định này được quy định tại Điều 12 với các quy định rất chi tiết, có nhiều điểm mở rộng hơn so với quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tuy nhiên, về kỹ năng lập pháp, cách quy định tại Điều 12 này lại theo cách liệt kê. Đây là kỹ thuật lập pháp hay được các nhà lập pháp Việt Nam lựa chọn để xây dựng các văn bản pháp luật. Cách quy định này tuy có thể làm rõ ràng nội dung điều luật, dễ dàng áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, việc liệt kê thường khiến cho quy định của điều luật trở nên rườm rà, nội hàm vừa thiếu, vừa thừa, cách quy định cứng nhắc, không linh động. Trong khi đó, đời sống xã hội thì luôn biến đổi không ngừng. Do đó, vòng đời của các quy định này thường không dài, dễ phải sửa đổi, bổ sung khi nhận thức của xã hội thay đổi.

Về nội dung, quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại BLHS 2015 vẫn kế thừa quy định tại BLHS 1999. Theo đó, có các mức tuổi sau:

– Với người từ đủ 16 tuổi trở lên (điểm 1 Điều 12 BLHS 2015):

Theo khoa học pháp lý Việt Nam, từ đủ 16 tuổi trở lên, con người đã có thể có nhận thức đầy đủ và điều khiển được các hành vi của mình. Do đó, họ được coi là người có năng lực, trách nhiệm hình sự đầy đủ. Những người này phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Tội phạm và mức tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Tội phạm và mức tuổi chịu trách nhiệm hình sự

– Với người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi (điểm 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015):

Như đã phân tích ở trên, cách quy định tại điểm 2 Điều 12 này quy định theo cách liệt kê. Tuy nhiên, do số lượng tội danh trong BLHS là rất lớn, nên khi liệt kê thì sẽ khiến cho quy định của điều luật vụn vặt, và có nhiều nhược điểm hơn là ưu điểm. Cụ thể, ta hoàn toàn có thể kể tên một số tội phạm khác không được “liệt kê” tại Điều 12 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự như tội: Chiếm đoạt tàu bay tàu thủy (Điều 278); Cản trở giao thông đường không; Tham ô tài sản với vai trò đồng phạm (Điều 353); Nhận hối lộ với vai trò đồng phạm (Điều 354)… Đây là cách quy định chưa hợp lý, có thể tạo ra lỗ hổng pháp lý.

Kỹ năng lập pháp, cách sử dụng từ ngữ trong quy định này cũng không rõ ràng, khiến cho điều luật khó hiểu, khó áp dụng hơn. Có thể nói, đây là một điểm lùi của Bộ luật hình sự mới bởi thực tế cách quy định tại BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về vấn đề này rất đơn giản và dễ hiểu: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Các định nghĩa về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng đã được giải thích nghĩa rõ ràng trong BLHS 1999. Khi áp dụng vào các vụ việc hình sự để xem xét về tuổi chịu trách nhiệm hình sự cũng rất dễ dàng. Do đó, cách quy định như trên là không cần thiết.

– Với người dưới 14 tuổi:

Trên thực tế, luật hình sự nước nào cũng quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không phải ở nước nào cũng giống nhau. Ví dụ: ở Anh, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là từ 8 tuổi; ở Mỹ là từ 7 tuổi; ở Thụy Điển là từ 15 tuổi;… Quy định về độ tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự ở mỗi nước hoàn toàn tuỳ thuộc vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm của mỗi nước, vào sự phát triển về sinh học của con người ở mỗi quốc gia khác nhau. Theo đó, căn cứ vào những điều trên và tham khảo pháp luật một số nước khác, pháp luật nước ta đã quy định với những người dưới 14 tuổi, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cho bất kỳ tội danh nào. Tuy nhiên, tuỳ vào những vi phạm, hành vi trên thực tế mà họ sẽ phải chịu một số trách nhiệm khác như trách nhiệm hành chính, dân sự,…

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào chưa rõ cần hỗ trợ, Quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 số: 1900.6590 để được tư vấn cụ thể và chính xác nhất.

Trân trọng!

Đánh giá bài viết